Trống đồng Đông Sơn – Tinh hoa văn hóa người Việt

Trống đồng được xem là một di vật tượng trưng cho buổi bình minh trong lịch sử dân tộc. Trống đồng là sản phẩm trong thời kỳ cực thịnh của nhà nước Văn Lang, đã đi vào lịch sử nước ta như một kỳ công tuyệt diệu. Cùng Đồ đồng giá rẻ cùng tìm hiểu 1 số thông tin quan trọng trong bài viết ” Trống đồng Đông Sơn – Tinh hoa ủa văn hóa Việt”

Trống đồng là gì?

Trống đồng là một loại nhạc cụ gõ bằng đồng hiện diện tại vùng Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc, xuất hiện từ thời đại đồ đồng.

Trống đồng không chỉ có chức năng nhạc khí mà còn có những chức năng khác như làm biểu tượng cho quyền lực, tôn giáo…Theo tín ngưỡng của người Việt thì trống đồng là một vật linh vì có vị thần tự xưng là thần trống đồng, tức thần Đồng Cổ đã giúp nhiều triều đại Việt Nam trong việc giữ nước hộ dân từ thời Vua Hùng, đến nhà Lý, nhà Trần… Trống được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong lễ hội, và trong chiến tranh khi người thủ lĩnh bộ lạc kêu gọi mọi người từ khắp nơi tụ về để cùng chiến đấu. Trống thường thuộc về những người thủ lĩnh và là biểu tượng của quyền lực. Người thủ lĩnh có quyền lực càng lớn thì trống càng to và đẹp. Trống đồng cũng được coi là một tài sản quý, và được chôn theo khi người chủ qua đời.

Trống đồng Đông Sơn - Tinh hoa văn hóa người Việt
Trống đồng Đông Sơn – Tinh hoa văn hóa người Việt

Nguồn gốc của trống đồng

Khi nghiên cứu tìm hiểu về nguồn gốc của trống đồng nhiều người đã tốn nhiều công sức để tìm tòi, bởi có nhiều lý thuyết cho rằng trống đồng có nguồn gốc ở Trung Quốc. Sau đó, một một luồng quan điểm khác cho rằng đó là một vùng rộng bao gồm cả Vân Nam, Quảng Tây ở nam Trung Quốc và vùng Bắc Bộ Việt Nam.

Nhiều tài liệu ghi rằng thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang, đặc biệt là giai đoạn Đông Sơn, văn hóa Văn Lang là thời kỳ phát triển cao nhất và rực rỡ nhất. Tại thời kỳ này đồ đồng thau đạt trình độ cao cả về kỹ thuật và nghệ thuật, được mở rộng khắp các miền Bắc Việt Nam và khu vực Đông Nam chấu Á, miền Nam Trung Hoa. Trong các sản phẩm được phát minh thời kỳ đó, trống đồng là minh chứng rạng ngời nhất.

Trống đồng mang những nét đẹp hoàn mỹ

Chúng ta thường thấy trống đồng với 2 tên gọi chính là trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Đông Sơn. Nhưng thực chất nó là một, trống đồng Ngọc Lũ nằm trong sưu tập của trống đồng Đông Sơn, là hiện vật tiêu biểu nhất cho nền văn hóa Đông Sơn. Người ta có thể thấy được rằng trong hàng ngàn chiếc trống đồng được phát hiện từ trước đến nay không có chiếc trống nào giống nhau hoàn toàn. Nhưng trong trong những chiếc trống đồng ấy, trống đồng Ngọc Lũ vẫn được xem là chiếc trống có kích thước và kiểu dáng hài hòa nhất với những trang trí phong phú, hoàn mỹ nhất.

Trống đồng kỳ diệu nhiều mặt, từ hợp kim, cách đúc, thẩm mỹ trong thiết kế đến loại hình và bố cục hoa văn. Xét về tổng thế, trống đồng có nhiều màu gồm trống đồng vàng thau hay màu xanh ngả xám hay thậm chí là màu đen.

Mặt trống được đúc liền chờm ra khỏi tang. Tang trống nở phình, thân trống hình trụ đứng, chân trống hình nón cụt hơi choãi. Mặt trống chính giữa đúc nổi ngôi sao 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi, chính là núm để đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công.

Họa tiết hoa văn trang trí trên mặt trống đồng rất phong phú và đặc sắc mô phỏng cuộc sống sinh hoạt của cư dân Việt. Những họa tiết bao gồm những cánh sao, những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp, Hình người và động vật đi quanh ngôi sao theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Trong đó là các nhóm gồm người mặc áo lông chim đang nhảy múa, người giã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong, hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn bay và chim mỏ dài đứng…

Chiếc trống đồng mang nhiều ý nghĩa, nói lên với chúng ta hay những thế hệ đời sau những gì về con người, về xã hội đương thời, về thuở dựng nước đầu tiên của ông cha ta, về trí tuệ, tình cảm, tâm hồn của người xưa và về tinh thần cũng như lý tưởng của xã hội cũ.

Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn
Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn

Trống đồng Đông Sơn – Tinh hoa của người Việt

Từ muôn đời nay, trống đồng Đông Sơn đã là biểu tượng cho văn hóa Đông Sơn cũng như nền văn minh sông Hồng của người Việt cổ thời vua Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Và trống đồng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Trống đồng như một vật quý báu hội tụ hồn thiêng sông núi, tích tụ những tinh hoa dân tộc trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt.

Trong suốt hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước và cho đến ngày nay chiếc trống đồng là vật tượng trưng cho tinh hoa văn hóa cũng như ý chí quật cường của dân tộc ta. Hiện nay, trong các buổi nghi lễ trang nghiêm như dịp lễ hội tiếng trống đồng vang lên uy nghi tạo không khí thiêng liêng làm tăng lên niềm tự hào dân tộc.

Từ bao đời nay, trống đồng Đông Sơn tiêu biểu cho nền Văn hóa Đông Sơn và nền văn minh Sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của nền văn hoá dân tộc Việt Nam. Hình ảnh trống đồng không chỉ là bảo vật quý báu của văn hoá Việt Nam mà còn là điểm hội tụ hồn thiêng sông núi được hình thành từ thời Hùng Vương dựng nước và được tích tụ tinh hoa dân tộc trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. Những chiếc trống đồng Đông Sơn được phát hiện trên khắp lãnh thổ của nước Việt Nam đã chứng minh hùng hồn điều đó.

Trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chiếc trống đồng đã là văn vật tượng trưng cho tinh hoa văn hoá cũng như ý chí quật cường của dân tộc ta. Trong những nghi lễ trang nghiêm cũng như dịp hội hè vui vẻ, tiếng trống đồng trầm hùng vang vọng tạo ra một không khí uy nghi, làm tăng lòng tự hào dân tộc và làm cho sứ thần của nhà Nguyên là Trần Phu khi đặt chân đến đất Thăng Long, nghe thấy tiếng trống đồng:

” Kim qua ảnh lý đan tâm khổ; Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh” ( Sợ run khi thấy gươm lòa sáng; Tóc bạc vì nghe tiếng trống đồng)

Quê hương của trống đồng Đông Sơn là vùng Đất Tổ trung du Phú Thọ và các tỉnh vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn đã tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 sau Công Nguyên. Nó là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo hiếm có, đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau mang đậm yếu tố bản địa của người Việt, tạo nên nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất ở Đông Nam châu Á. Những chiếc trống đồng Đông sơn chính là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước phát triển rực rỡ và toả sáng trên lưu vực của sông Hồng- Con sông Cái của Đất Mẹ Việt Nam- Nơi khai sinh ra dân tộc và đất nước Việt Nam hôm nay.

Trống đồng Ngọc Lũ – Hài hòa và hoàn mỹ

Ở mỗi dân tộc, trong buổi bình minh lịch sử của mình thường được đánh dấu bằng một công trình xây dựng kỳ diệu, như những kim tự tháp đồ sộ của Ai Cập cổ, hoặc một vật tiêu biểu như tượng thần Dớt ở Olympia của Hy Lạp cổ. Trong thời kỳ hình thành và phát triển của nền văn minh Việt cổ, dân tộc ta đã có một loại di vật tiêu biểu tượng trưng xứng đáng của mình.

Đó là trống đồng. Là sản phẩm của thời kỳ cực thịnh của Nhà nước Văn Lang, trống đồng đã đi vào lịch sử nước ta như một kỳ công tuyệt diệu. Cái tên trống đồng Ngọc Lũ với hình dáng cân đối hài hòa, phủ kín mình những hoa văn đẹp nhất, đã từ lâu rồi, không chỉ rất quen biết, thân thiết với chúng ta, mà còn rất nổi tiếng trên thế giới.

Trống đồng Ngọc Lũ có niên đại 2.500 năm cách ngày nay, được xếp vào loại H1 – Heger (theo sự phân loại dựa trên 165 chiếc trống đồng được biết đến thời điểm ấy của học giả F.Héger – người Áo – vào năm 1902), H1 là “loại cổ nhất, cơ bản nhất và từ loại này mà các loại khác ra đời”. Ngọc Lũ là một trong số không nhiều trống đồng giữ vai trò ấy.

Trống đồng Ngọc Lũ cổ được tìm thấy
Trống đồng Ngọc Lũ cổ được tìm thấy

Trống có patin màu xanh ngả xám, đường kính mặt 79,3cm, cao 63cm, nặng 86kg, thuộc loại kích thước lớn. Mặt trống đúc liền chờm ra khỏi tang. Tang trống nở phình, thân trống hình trụ đứng, chân trống hình nón cụt hơi choãi. Mặt trống chính giữa đúc nổi ngôi sao 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi, chính là núm để đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công. Bao quanh ngôi sao là 16 vành hoa văn.

Vành 1, 5, 11 và 16: Những hàng chấm nhỏ. Vành 2, 4, 7, 9, 13 và 14: Những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến.

Vành 3: Những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp. Vành 12 và 16: Văn răng cưa. Vành 6, 8 và 10:

Hình người và động vật đi quanh ngôi sao theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Trong đó là các nhóm: Người mặc áo lông chim đang nhảy múa, người giã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong, hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn bay và chim mỏ dài đứng.

Tang trống chính là chiếc hộp cộng hưởng khuếch đại âm thanh. Phần trên có 6 vành hoa văn hình học. Vành 1 và 6: Những đường chấm nhỏ thẳng hàng. Vành 2 và 5: Văn răng cưa. Vành 3 và 4: Hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song. Phần dưới là 6 chiếc thuyền chuyển động từ trái sang phải, chở chiến binh tay cầm vũ khí và tù binh, xen giữa là những hình chim cò ngậm cá, chó săn được thể hiện theo lối cách điệu. Gắn giữa tang và thân trống là hai đôi quai kép đúc nổi hoa văn bông lúa, đối xứng nhau.

Thân trống hình trụ đứng, là bộ phận nắn âm thanh. Phần giữa của thân có những hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hình chữ nhật. Trong ô là các võ sĩ đầu đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí vừa đi vừa múa. Phần dưới của thân là ba vành hoa văn hình học, giữa là vành văn vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Hai bên là hai đường chấm nhỏ. Ngoài cùng là hai đường chỉ trơn.

Chân trống nở choãi hình nón cụt là cửa mở để âm thanh của trống thoát ra và tỏa rộng nhanh chóng, không trang trí. Rìa mặt trống có vết lõm nhỏ, đó là dấu vết của những con kê để lại khi
đúc trống.

Tên của Ngọc Lũ – chiếc trống Đông Sơn cổ nhất, đẹp nhất và còn nguyên vẹn này – vốn không phải địa danh của nơi phát hiện như người ta thường nghĩ với các chiếc trống khác. Trong “Quản lý văn vật”, tháng 12 năm 1965 (Nội san của Vụ Bảo tồn bảo tàng) Trần Huy Bá cho biết: Theo lời cụ Nguyễn Đăng Lập (85 tuổi) – người xã Ngọc Lũ – vào khoảng năm 1893 – 1894, các ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn Túc và một số người khác đắp đê ở xã Như Trác, huyện Nam Xang (nay là Lý Nhân) hữu ngạn sông Hồng. Khi đào ở bãi cát bồi thì thấy ở dưới độ sâu 2 mét lộ ra một vật bằng đồng rất lớn, các ông vội lấp đất rồi đến đêm mới kéo ra đào thì thấy một trống đồng, các ông khiêng về cúng vào đình làng Ngọc Lũ. Sau 7 – 8 năm, một họa sĩ người Pháp đến vẽ tại đình thấy trống liền báo cho Công sứ Hà Nam. Nhân có cuộc đấu xảo ngày 15.11.1902 ở Hà Nội, trống được Trường Viễn Đông Bác Cổ mua lại với giá 550 đồng.

Trong tạp chí Khảo cổ học năm 1974, chi tiết về xuất xứ của Ngọc Lũ có khác một chút khi cho rằng người dân đã cúng trống vào chùa Long Đọi Sơn chứ không phải đình làng, cũng thuộc xã Ngọc Lũ, cách nơi phát hiện 30km về phía đông bắc. Chỉ những khi có lễ cúng mới mang trống ra đánh, còn ngày thường để ở hậu cung. Từ năm 1958 đến nay, trống đồng Ngọc Lũ luôn được lưu giữ, trưng bày tại hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đã có ý kiến đề nghị đổi tên thành Như Trác cho tiêu bản trống đẹp và tiêu biểu nhất này, song trống đã nổi tiếng từ lâu với tên Ngọc Lũ, và một sự thay tên như thế cũng không cần thiết, về mặt khoa học.

Trống đồng Ngọc Lũ thuộc sưu tập trống đồng Đông Sơn là đại diện loại hình hiện vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á. Trong hàng ngàn chiếc trống được phát hiện từ trước đến nay (không hề có chiếc nào giống nhau hoàn toàn), trống đồng Ngọc Lũ vẫn là chiếc trống có kiểu dáng và kích thước hài hòa nhất, trang trí hoàn mỹ và phong phú nhất.

Trống đồng hàm chứa những ý nghĩa sâu kín

Trống đồng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong sinh hoạt đa dạng của cư dân xã hội Đông Sơn. Về cơ bản thì trống là một nhạc khí dùng trong những lễ tiết lớn của cả cộng đồng. Trống đồng còn được dùng trong lễ mai táng chôn theo người chết, trong lễ hội cầu mùa và là biểu tượng quyền lực của tầng lớp thống trị thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Trống đồng là một “nhân chứng” lịch sử nói lên tài năng, kỹ thuật tuyệt vời của chủ nhân đã sáng tạo ra chúng. Điều đó được chứng minh bằng việc trống đồng Ngọc Lũ đã được đúc thể nghiệm rất nhiều lần nhưng vẫn không có được sự thành công thực sự như người xưa.

Theo tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài “Từ chia loại, chia nhóm đến tìm hiểu niên đại và quê hương của trống đồng”, thời đại đồng thau ở nước ta kết thúc vào buổi đầu thời Đông Hán, nghĩa là khoảng TK thứ 1 sau Công nguyên. Nhưng niên đại của trống H1 chưa chấm dứt ở đây, mà kéo dài thêm vài thế kỷ nữa. Điều này cũng dễ hiểu vì khi bước sang thời đại sắt, các công cụ và vũ khí chủ yếu dần được thay thế bằng sắt, như Enghen nói, do tính ưu việt của nó, nên chỉ có sắt mới có thể thay thế hoàn toàn được gỗ, đá, mới nâng cao được năng suất lao động và hiệu quả chiến đấu. Nhưng đến lúc đó, trống lại vẫn cần thiết được đúc bằng đồng, bởi vì đồng dễ nóng chảy, dễ đúc, không vỡ khi đánh và có âm hưởng tốt.

Với những đặc tính đó, đồng vẫn giữ nguyên tính chất ưu việt trong việc đúc trống, mà sắt không thể nào thay thế được. Điều đó giải thích sự tồn tại dai dẳng của trống đồng H1 nói riêng và trống đồng nói chung. Đó là điều khiến chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trống đồng còn được chế tạo và lưu hành mãi đến thời cận hiện đại. Năm 1293, Trần Phu – sứ nhà Nguyên – đến Thăng Long, làm thơ: “Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh…” (Bóng lòe gươm sắt lòng đau khổ, nghe tiếng trống đồng tóc bạc trắng). Ông cũng cho rằng, trống đồng là loại vật báu của phương Nam mà người Hán không có.

Việt Nam là quê hương của trống đồng. Mật độ phân bố các trống H1 ở nước ta rất dày đặc ở rất nhiều tỉnh, tập trung ở ven các sông lớn, nơi người Việt cổ cư trú, đặc biệt là khu vực trung du và Đồng bằng Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ. Nhìn vào bản đồ, ta có thể dễ dàng nhận thấy địa bàn phân bố trống đồng trùng khít với cương vực nước Văn Lang của các vua Hùng. Chẳng những nước ta là nơi phát hiện được nhiều trống đồng H1 nhất thế giới, mà còn là nơi có nhiều trống có niên đại sớm nhất. Trong 4 chiếc trống nhóm A (nhóm cổ nhất trong trống H1) thì ở nước ta đã có tới 3 chiếc. Nước ta cũng là nơi đã tìm được nhiều trống H1 nhất, có quá trình phát triển liên tục từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn, giai đoạn tàn dư của trống đồng H1.

Ở các vùng xung quanh nước ta, thường chỉ phát hiện được những trống đồng H1 có niên đại tương đối muộn hoặc rất muộn về sau. Tất cả những điều đó chứng tỏ Việt Nam là quê hương của trống đồng, trung tâm đầu tiên chế tạo ra những trống đồng cổ nhất. Từ Việt Nam, nền văn hóa Đông Sơn nói chung, của trống đồng nói riêng, đã ảnh hưởng đến các vùng xung quanh. Chúng ta cũng còn thấy trên các hình thuyền của các trống đồng cổ nhất thường có chở những trống đồng. Đó là những thuyền lớn có thể vượt biển được. Điều đó chứng tỏ từ Việt Nam, trống đồng đã đi vào nhiều nước xung quanh thông qua con đường trao đổi buôn bán hoặc chiến tranh, mà phương tiện giao thông theo các sông lớn và biển là chính. Nhiều học giả phương Tây cũng thừa nhận như thế.

Trống đồng và thời đại các vua Hùng

Trống đồng Việt Nam có nhiều loại hình, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ trống Đông Sơn là trống loại I Hê- Ghơ theo sự phân loại của nhà khảo cổ học người Đức. Trống được ra đời từ nền văn hoá Đông Sơn gắn liền với thời kỳ các Vua Hùng dựng nước Văn Lang mà địa bàn Phú Thọ là trung tâm của nền Văn hoá Đông Sơn- Văn minh sông Hồng- Đỉnh cao của sự hoàn thiện kỹ thuật chế tạo là trống đồng Đền Hùng có kích thước trống loại I lớn nhất từ trước đến nay được phát hiện năm 1990 tại Đồi Khuôn Muồi- Một làng cổ ngay sát chân núi Nghĩa Lĩnh- Nơi có Đền thờ các Vua Hùng đã có công dựng nước. Điều đó chứng minh: Trống đồng Đền Hùng là vật linh thiêng đã được nhà nước Văn Lang dùng làm linh vật mỗi khi tế lễ, hội hè tại khu di tích lịch sử Đền Hùng.

Cùng với nhiều chiếc trống đồng loại I khác đã được tìm thấy trên dải đất Việt Nam, đó là những tư liệu vô cùng quý báu chứng minh nguồn gốc ra đời và đã có vị trí linh thiêng trong đời sống tâm linh của người Việt. Trống đồng không chỉ là vật linh mà thông qua đó chúng ta đã được sáng tỏ nhiều vấn đề khoa học mà trống đồng là thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta – Nhà Nước Hùng Vương. Trống đồng và những hình khắc họa trên trống đã giúp chúng ta ngày nay hình dung được đôi nét về cuộc sống của người Việt cổ ở thời xa xưa ấy. Hoa văn trên trống đồng có nhiều loại, kiểu bố trí hợp lý trên các phần mặt, tang và thân trống. Nó được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích để làm cơ sở khoa học trong phân loại trống và khắc họa những nét sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa Đông Sơn thời bấy giờ.

Trống đồng không chỉ có chức năng nhạc khí mà còn có những chức năng khác như làm biểu tượng cho quyền lực, tôn giáo… Trống được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong lễ hội, và trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, khi người thủ lĩnh bộ lạc kêu gọi mọi người từ khắp nơi tụ về để cùng chiến đấu. Trống thường thuộc về những người thủ lĩnh và là biểu tượng của quyền lực. Người thủ lĩnh có quyền lực càng lớn thì trống càng to và đẹp. Trống đồng cũng được coi là một tài sản quí, và được làm đồ tuỳ táng khi người chủ qua đời.

Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, là một hiện vật vô cùng quý báu, một trong những niềm tự hào sâu sắc của văn hoá Việt Nam. Ngày nay, hàng trăm chiếc trống đồng được phát hiện và lưu giữ và trưng bày trang trọng ở các bảo tàng quốc gia và các địa phương, vùng đất Thanh Sơn miền tây của tỉnh Phú Thọ là nơi duy nhất tại Việt Nam vẫn còn ngày hội Trống đồng của dân tộc Mường với lễ hội “Đâm Đuống” và “Chàm thau”. Đây cũng là một trong số những vùng địa linh của tỉnh Phú Thọ đã phát hiện được nhiều trống đồng trong lòng đất nhất.

Chính vì lý do đó mà tỉnh Phú Thọ đã khôi phục một nghi thức linh thiêng là đánh trống đồng trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm để phục vụ đồng bào trong nước và du khách quốc tế về tham dự các hoạt động trong ngày lễ hội.

Đây là hoạt động thể hiện tấm lòng thành kính và tôn vinh các giá trị văn hoá, thông qua đó, tích cực đẩy mạnh hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá nói chung và biểu tượng trống đồng di sản văn hoá truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam nói riêng. Góp phần tăng cường sự gắn bó, đoàn kết của cộng đồng người Việt Nam nhằm khơi dậy lòng tự hào truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thiết thực góp phần giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”; ” Ăn quả nhớ người trồng cây” cho các thế hệ tiếp bước truyền thống vẻ vang của cha ông. Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu khi Người về thăm viếng Đền Hùng và các Vua Hùng: “…Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước…”.

Cùng nhau đoàn kết, chung sức, chung lòng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh vững bước tiến lên con đường XHCN vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Từ Đền Hùng, tiếng trống đồng Đông Sơn sẽ được âm vang, vọng xa đến mọi miền đất nước. Từ Đền Hùng, tiếng trống đồng Đông Sơn sẽ được vang ngân trong lòng bè bạn quốc tế trên khắp năm châu, bốn biển. Từ Đền Hùng tiếng trống đồng âm vang như khẳng định những giá trị về truyền thống, đạo lý nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước với bao biến cố, thăng trầm vẫn hiên ngang đứng vững và tự hào phát triển đi lên cùng nhân loại./.

Trống đồng được lưu giữ dưới bàn tay của các nghệ nhân đồ đồng

Hiểu được những ý nghĩa sâu sắc và tầm quan trọng của trống đồng, các nghệ nhân đúc đồng trong đó có các nghệ nhân của chúng tôi đã gìn giữ và phát huy những nét đẹp thiêng liêng truyền thống ấy. Cách họ lưu giữ và bảo tồn là sản xuất ra những sản phẩm trống đồng đẹp in đậm dấu ấn, những nét đẹp về tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Tất cả các sản phẩm trống đồng đều được các nghệ nhân của Đồ Đồng Giá rẻ sản xuất bằng cả trái tim nên mỗi sản phẩm ra đời đều mang giá trị cao phục vụ mọi nhu cầu thờ cúng, trưng bày hay sử dụng trống đồng làm quà tặng. Trống đồng lưu niệm là món quà vô cùng quý giá với nhiều người nhằm bày tỏ lòng biết ơn của họ với những thế hệ đi trước, với tổ tiên và ông cha ta đã làm nên một sản vật quý báu muôn đời.

Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255